Theo y khoa cựu truyền, bệnh thoái hóa đốt sống cổ được gây ra bởi phong hàn thấp bên ngoài xâm nhập vào làm cho máu khí trong kinh lạc bị bí tắc gây lên đau, cử động khó khăn.

chua-thoat-vi-dia-dem-co

Theo danh y Như Tá, bệnh này gặp nhiều ở những cá nhân thân thể suy nhược, cao tuổi; do hư yếu của tuổi già – càng cao tuổi, xương và các đốt ít được nuôi dưỡng hơn gây nên đau, khó hoạt động; do chấn thương làm ảnh hưởng đến gân cơ và khớp vùng cổ gáy… Các căn do trên, nếu không được điều trị sẽ làm cho khí máu bị ngưng trệ gây nên bệnh.

Bài thuốc ta hay cho các thể bệnh

Bộc lộ và bài thuốc, theo lương y Như Tá là tùy từng thể bệnh, duyên cớ. Nếu do phong hàn thì đầu, gáy, vai và lưng đau, gáy cứng, có nhiều điểm đau ở cổ, cảm thấy như nhịp đập ở cổ, cử động khó khăn, tay chân tê, đau, mỏi, chi trên cảm thấy nặng, không có sức, thích ấm, sợ lạnh. Chữa trị trong trường này có thể sử dụng bài gồm các vị: tam thất |3 gr, cam thảo 6 gr, cát căn 15 gr, quế chi, bạch thược, đương quy, xuyên khung, thương truật, mộc qua (mỗi vị đều 9 gr), sinh khương 3 lát, táo 3 trái.

Với thể can thận âm hư, biểu hiện trình bày là gáy, vai, lưng đau, có những thời điểm đau lan lên đầu, bộ hạ tê, mất cảm giác, thắt lưng đau, đầu gối mỏi, chóng mặt, hoa mắt, gò má hay đỏ, ra mồ hôi trộm, họng khô, lưỡi đỏ, rêu lưỡi mỏng. Chữa trị trong trường hợp này có thể dùng bài gồm các vị: ngưu tất, thục địa, đan sâm (mỗi vị đều 12 gr), đương quy, bạch thược, tỏa dương, tri mẫu, hoàng bá, quy bản, thỏ ty tử, kê máu đằng (mỗi loại đều 9 gr).

Với thể đờm thấp ngăn cản kinh mạch thì thể hiện là, đầu, gáy, vai, vai lưng đau; váng đầu, chóng mặt, đầu nặng, cơ thể nặng, không có sức, nôn ói, ngực và hông sườn đầy tức, lưỡi trắng nhạt. Điều trị với thể này sử dụng bài gồm các vị: tam thất 3 gr, đởm nam tinh, bán hạ, bạch giới tử, ngũ vị tử (mỗi loại đều 10 gr), cát cánh 6 gr, phục linh, trần bì, địa long (mỗi loại đều 12 gr).

Với thể khí máu đều hư, huyết ứ – biểu hiện thường gặp là, đầu, gáy khó cử động, gáy yếu, thuộc cấp yếu, nhất là ở các đầu ngón tay, vai và tay tê, mệt trong người, mất ngủ, hay mơ, tự ra mồ hôi, mồ hôi trộm, chóng mặt, tim hồi hộp, hơi thở ngắn, da mặt xanh, lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng mỏng. Điều trị trong trường hợp này có thể dùng bài gồm các vị: hoàng kỳ 18 gr, kê máu đằng 15 gr, xích thược, bạch thược (mỗi loại đều 12 gr), quế chi, cát căn (mỗi loại đều 9 gr), sinh khương 6 gr, táo 4 trái.

Cách sắc (nấu) các bài thuốc như sau: cho các vị thuốc vào nồi đất cùng 4 chén nước, nấu còn lại 1 chén, cho nước ra, đấu cho 3 chén nước vào, nấu còn lại nửa chén. Hòa lại nước lại, chia làm 3 lần dùng trong ngày, dùng lúc còn âm ấm.